Showing posts with label Phòng chống bệnh. Show all posts
Showing posts with label Phòng chống bệnh. Show all posts

Wednesday, August 9, 2017

Các xét nghiệm hóa sinh thường được sử dụng trong chẩn đoán, theo dõi điều trị và tiên lượng bệnh tiểu đường

Hiện nay để chẩn đoán bệnh tiểu đường tại các cơ sở y tế ở Việt Nam, bệnh nhân thường được chỉ định làm ba xét nghiệm là định lượng nồng độ glucose máu, 10 chỉ tiêu nước tiểu và nghiệm pháp tăng đường máu theo đường uống. Đây đều là những xét nghiệm đơn giản, rẻ tiền nhưng lại có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phát hiện sớm những bệnh nhân tiểu đường.
Tuy nhiên, gần đầy có nhiều xét nghiệm mới hỗ trợ bác sỹ và bệnh nhân tiểu đường trong việc theo dõi, phát hiện sớm biến chứng, kiểm soát và tiên lượng bệnh.
1. Định lượng nồng độ glucose trong huyết tương
Xét nghiệm này được dùng để xác định lượng glucose có trong máu vào thời điểm lấy mẫu thử. Nó được dùng để phát hiện tình trạng tăng đường huyết cũng như hạ đường huyết, giúp chẩn đoán đái tháo đường và theo dõi lượng đường huyết ở những bệnh nhân bị đái tháo đường . Đường huyết có thể được đo lúc đói (lấy mẫu thử sau 8 đến 10 giờ nhịn đói), lấy một cách ngẫu nhiên (vào bất kỳ thời điểm nào), sau bữa ăn.
2. Định lượng HbA1C
Trong việc kiểm soát bệnh tiểu đường, bệnh nhân và bác sỹ hầu như chỉ để ý đến xét nghiệm đường máu lúc đói, sau ăn 2 giờ và xét nghiệm phát hiện đường niệu. Xét nghiệm đường máu chỉ cung cấp thông tin về lượng đường trong máu ngay tại thời điểm thử. Do đó, mức đường máu lúc đó thấp không đồng nghĩa với việc bệnh đã được kiểm soát tốt thực sự và không có biến chứng.
Để đánh giá đường máu có được kiểm soát tốt hay không trong một quá trình và tiên lượng về biến chứng, bệnh nhân cần làm xét nghiệm HbA1c. Nếu đường máu càng tăng thì HbA1c được tạo ra càng nhiều. Do tế bào hồng cầu có thể tồn tại trong vòng 120 ngày nên xét nghiệm HbA1c có giá trị thông báo mức đường máu của 3 tháng gần nhất. Do đó, HbA1c không chỉ đánh giá kết quả điều trị của bệnh nhân trong 3 tháng qua mà còn cho biết về sự xuất hiện biến chứng. Chỉ số này cao chứng tỏ bệnh nhân đã hoặc sắp có biến chứng rất nặng. Với người lần đầu phát hiện bệnh tiểu đường, xét nghiệm này rất có giá trị trong việc đánh giá bệnh đang ở mức độ nào, điều mà chỉ số đường huyết lúc đói không thể  thay thế được.
Tháng 1/2010, với sự đồng thuận của Ủy ban các chuyên gia Quốc tế, Hiệp hội nghiên cứu tiểu đường Châu Âu (EASD), Liên đoàn tiểu đường Quốc tế (IDF); Hiệp hội tiểu đường Mỹ (ADA) đã công bố tiêu chí chẩn đoán mới bệnh tiểu đường, đưa HbA1c vào tiêu chí chẩn đoán và lấy điểm cắt ≥ 6,5%. Trong đó xét nghiệm HbA1c phải được thực hiện ở phòng xét nghiệm được chuẩn hoá theo chương trình chuẩn hoá Glyco-hemoglobin Quốc Gia (National Glyco-hemoglobin Standardlization Program: NGSP).
3. Phát hiện glucose và ceton trong nước tiểu
Khi làm xét nghiệm 10 thông số nước tiểu, kết quả cho thấy:
* Bình thư­ờng:
- Glucose niệu (-).
- Ceton niệu (-).
- pH nước tiểu bình th­ường ở giới hạn từ 5- 8.
- Tỷ trọng nước tiểu: 1,003 – 1,030
* Trong bệnh tiểu đường kết quả thường thay đổi như sau:
- Đ­ường niệu (+).
- Ceton niệu (+).
- pH nước tiểu giảm mạnh vì các thể cetonic đều là các acid mạnh. Khi các thể cetonic tăng cao trong máu, đào thải qua nước tiểu, làm cho pH nước tiểu giảm thấp hơn so với bình thư­ờng (pH < 5).
- Tỷ trọng nước tiểu: tăng cao (>1,030).
4. Nghiệm pháp tăng đ­ường máu theo đ­ường uống
Nghiệm pháp gây tăng đ­ường máu hay nghiệm pháp dung nạp glucose đư­ợc sử dụng để giúp chẩn đoán bệnh tiểu đường. Nghiệm pháp dung nạp glucose bao gồm nghiệm pháp dung nạp glucose tiêm tĩnh mạch và nghiệm pháp dung nạp glucose theo đư­ờng uống. Tuy nhiên nghiệm pháp dung nạp glucose tiêm tĩnh mạch ít đ­ược sử dụng do tâm lý phải lấy máu nhiều lần, không đơn giản như­ đường uống.
Nghiệm pháp dung nạp glucose theo đư­ờng uống (OGTT) là nghiệm pháp dễ thực hiện, đơn giản và cho kết quả chẩn đoán tin cậy.
* Chỉ định của OGTT:
- Những người có đư­ờng máu tăng nhẹ (6,1- 7,8 mmol/l).
- Ng­ười có nguy cơ tiểu đường: mẹ bị tiểu đường, sinh đôi cùng trứng
- Bệnh nội tiết có liên quan đến tiểu đường.
* Chống chỉ định đối của OGTT:
- Thư­ờng xuyên có đ­ường máu < 6,1 mmol/l.
- Tăng đư­ờng máu rõ rệt (> 7,8 mmol/l) và kéo dài.
- Bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng tiểu đường điển hình và glucose máu > 11,1 mmol/l.
- Ở phụ nữ đang mang thai có nghi ngờ tiểu đường (tốt nhất với họ nên để sau khi sinh mới làm, nếu thấy thật cần thiết nên làm nghiệm pháp kiểm tra ở tuần thứ 6 - 7 của thai sản).
* Đánh giá kết quả OGTT:
- G2 < 140 mg/dl (7,8 mmol/l): dung nạp glucose bình thường.
- G2 ≥ 140 mg/dl và < 200 mg/dl (11,1 mmol/l): rối loạn dung nạp glucose (IGT).
- G2 ≥ 200 mg/dl (11,1 mmol/l): chẩn đoán là tiểu đường.
5. Định lượng microalbumin niệu
Định lượng microalbumin (MAU) niệu có giá trị chẩn đoán sớm biến chứng thận ở bệnh nhân tiểu đường. Xét nghiệm cho phép chẩn đoán sự tiến triển của bệnh thận ở những bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường tuýp 1- tuýp phụ thuộc vào insulin. Ở bệnh nhân  tiểu đường không phụ thuộc vào insulin và bệnh nhân già không tiểu đường, MAU được xem nh­ư là một chỉ tiêu cho bệnh tim mạch và biến chứng thân.
Microalbumin niệu và biến chứng thận ở bệnh nhân tiểu đường:
- Bình thường: lượng albumin bài xuất theo NT/ 24h là rất nhỏ, thường rất khó và không xác định được, coi như ­ không có.
- Ở giai đoạn sớm của bệnh tiểu đường: MAU: 30 – 300 mg/ 24h. Xuất hiện MAU là biểu hiện của tăng lọc cầu thận. Tổn thư­ơng có tính tạm thời và sẽ mất đi khi điều trị glucose về bình thường.
- Ở giai đoạn sau của bệnh tiểu đường: MAU > 300 mg/24h, xuất hiện thường xuyên, thường được phát hiện sau 5 năm khi BN được chẩn đoán bị bệnh tiểu đường, và có thể phát hiện được ngay khi chẩn đoán bệnh tiểu đường tuýp 2.
6. Định lượng nồng độ peptid-C trong máu
Peptide-C là một peptide gồm 31gốc acid amin, được sinh tổng hợp bởi tế bào beta của đảo tụy cùng lúc với insulin từ proinsulin dưới tác dụng của enzym thủy phân là protease theo phương trình sau:
Proinsulin (86 aa) + 4H2O → Insulin (51 aa) + Peptid C (31 aa) + 4 aa
Như vậy, việc định lượng peptide-C trong huyết tương có thể giúp đánh giá khả năng hoạt động của các tế bào beta của tụy ngoại tiết. Theo phương trình trên, lượng peptide và insulin được tế bào beta đảo tụy sản xuất và bài tiết với lượng như nhau vào máu tuần hoàn qua đường tĩnh mạch cửa. Tuy nhiên, do peptide-C được đào thải qua thận còn insulin được đào thải chủ yếu qua gan và cũng do thời gian bán hủy (half-life) của peptide-C là khoảng 30 phút và của insulin là 5 phút nên nồng độ peptide-C trong máu thường cao hơn nồng độ insulin khoảng 5 lần.
Peptide-C không chỉ là sản phẩm phụ của sự sinh tổng hợp insulin mà còn là một chất có hoạt tính sinh học. Việc thay thế peptide-C kết hợp với việc cung cấp insulin có thể ngăn cản sự phát triển hoặc làm chậm tiến triển của những biến chứng của đái tháo đường type 1.
* Chỉ định:
- Đối với bệnh nhân mới được chẩn đoán là đái tháo đường type 1, việc định lượng peptide-C huyết tương sẽ đánh giá "chức năng tế bào beta còn lại".
- Đối với đái tháo đường type 2, việc định lượng peptide-C huyết tương được chỉ định để theo dõi tình trạng của các tế bào beta và khả năng sản xuất insulin theo thời gian để xác định khi nào cần tiêm insulin.
- Việc định lượng peptide-C, insulin và glucose huyết tương được sử dụng để chẩn đoán phân biệt nguyên nhân hạ glucose huyết: hạ glucose huyết nhân tạo (tiếp nhận quá nhiều insulin) và hạ glucose huyết do sản xuất thừa insulin, do u insulin (insulinomas). Ở bệnh nhân bị u insulin, việc định lượng peptide-C theo thời gian giúp đánh giá hiệu quả điều trị và phát hiện sự tái phát của khối u.
- Xét nghiệm peptide-C huyết tương là phương tiện có giá trị để đánh giá kiểm soát chuyển hóa một cách tối ưu trong thời gian dài.
- Xét nghiệm peptide-C huyết tương cũng được chỉ định theo thời gian để đánh giá sự thành công của ghép tụy và theo dõi sau cắt bỏ tụy.
- Peptide-C nước tiểu được chỉ định để đánh giá liên tục chức năng của tế bào beta hoặc khi khó lấy máu (ở trẻ em).
- Peptide-C nước tiểu cũng được chỉ định để đánh giá chức năng tụy trong đái đường thai nghén và ở các bệnh nhân đái tháo đường type 1 không kiểm soát ổn định được glucose huyết.
* Ý nghĩa lâm sàng:
Bình thường, nồng độ peptide-C trong huyết tương (hay huyết thanh) là 0,37 – 1,47 nmol/L (1,1 – 4,4 ng/mL); hàm lượng peptide-C trong nước tiểu là 5,74 – 60,3 nmol/24h (17,2 – 181 μg/24h).
Nồng độ peptide-C huyết tương tăng khi: sản xuất insulin nội sinh tăng, gặp trong trường hợp cơ thể đáp ứng với sự tăng glucose máu do ăn nhiều glucose hoặc do kháng insulin, u insulin, hạ kali máu, trong thai kỳ, hội chứng Cushing, suy thận, béo phì. Nồng độ peptide-C huyết tương giảm khi sự sản xuất insulin của các tế bào beta đảo tụy giảm, sự sản xuất insulin bị ức chế do sử dụng insulin ngoại sinh hoặc do thử nghiệm sử dụng chất ức chế như somatostatin. Ngoài ra nó còn giảm trong bệnh nhân bị u insulin đáp ứng với điều trị (và tăng trở lại khi u insulin tái phát).

Monday, July 24, 2017

6 hiểu biết sai lầm tai hại về sốt xuất huyết

Bệnh sốt xuất huyết khá nguy hiểm nhưng vẫn còn nhiều người có những nhận thức không đúng về bệnh dẫn đến những hậu quả khôn lường cho tính mạng của chính mình và người thân.
1. Bị một lần sẽ không bị lại
Đối tượng nào cũng có thể bị mắc sốt xuất huyết dù là người già, trẻ nhỏ hay thanh niên. Hiện lưu hành 4 tuýp vi rút sốt xuất huyết nên bệnh nhân mắc rồi vẫn có thể bị mắc lại và thậm chí lần sau còn mắc nặng hơn lần trước.
Nếu một người đã nhiễm với chủng vi rút nào thì chỉ có khả năng tạo được miễn dịch suốt đời với chủng vi rút đó nhưng chưa có khả năng miễn dịch với những chủng vi rút còn lại.
Do vậy, mỗi người có thể sẽ mắc sốt xuất huyết 4 lần trong cả đời người. 
Mỗi người có thể sẽ mắc sốt xuất huyết 4 lần trong cả đời người
2. Giảm sốt là hết bệnh
Theo quy luật, thường trong 3 ngày đầu tiên, người bệnh sẽ sốt cao, đau đầu, đau mỏi người, nhức mắt. Tuy nhiên, thời gian này không phải là thời gian nguy hiểm nhất và không xuất hiện các biến chứng. Bệnh nhân vẫn có thể điều trị tại nhà.
Từ ngày thứ 4 (tính từ khi bắt đầu sốt trở đi) là thời điểm nguy hiểm nhất của bệnh. Bệnh nhân sẽ giảm sốt, không sốt như 3 ngày trước, và họ nghĩ rằng bệnh đã bớt nguy hiểm, có lẽ sắp khỏi nhưng chính giai đoạn này có thể có những biến chứng nặng.
Biến chứng thứ nhất là tình trạng tăng tính thấm thành mạch và cô đặc máu. Bệnh nhân sẽ không cảm nhận được điều này mà nó chỉ thể hiện qua các chỉ số xét nghiệm. Dựa vào kết quả xét nghiệm, bác sĩ sẽ quyết định có phải truyền dịch cho bệnh nhân hay không.
Biến chứng thứ hai là xuất huyết do giảm tiểu cầu. Bệnh nhân có thể có hiện tượng chảy máu cam, chảy máu chân răng, xuất huyết dưới da... Phải đến ngay cơ sở y tế với những hiện tượng trên.
3. Sốt xuất huyết lây qua đường tiếp xúc
Sốt xuất huyết không lây qua hô hấp, hay dịch tiết ra. Sốt xuất huyết chỉ lây qua vết đốt từ muỗi. Muỗi là con vật mang bệnh từ người nay qua người khác dẫn đến sốt xuất huyết
4. Uống thuốc Aspirin và Ibuprofen khi bị sốt xuất huyết
Khi xuất hiện những triệu chứng đầu tiên của sốt xuất huyết như đau người, đau cơ, khớp, đau đầu, sốt..., đa phần mọi người thường nghĩ đến cúm hoặc sốt do virus và tự ý dùng giảm đau, trong đó có 2 loại là Aspirin và Ibuprofen. Hai loại thuốc này sẽ làm cho tình trạng chảy máu ở người bệnh trầm trọng hơn, có thể xuất huyết dạ dày dữ dội, nguy hiểm đến tính mạng.
Thuốc Aspirin và Ibuprofen cùng có tác dụng ngăn sự tập kết tiểu cầu, chống đông máu. Aspirin còn có tác dụng phụ là loét dạ dày tá tràng và có thể gây xuất huyết dạ dày, ói ra máu.
Do vậy, tuyệt đối không dùng Aspirin và Ibuprofen khi nghi ngờ bị sốt xuất huyết.
5. Muỗi truyền bệnh chỉ xuất hiện ở những nơi ao tù, nước đọng
Ai cũng nghĩ chỉ những nơi cống rãnh, mất vệ sinh, ao tù là địa điểm sinh sôi, cư trú của muỗi vằn. Nhưng không phải, muỗi vằn cư trú ở những nơi nước trong để lâu ngày ngay trong chính ngôi nhà chúng ta ở như: bể nước cá cảnh, bình cắm lọ hoa lưu nước, hòn non bộ, nước để trên ban thờ, nước mưa đọng tại những mảnh vỡ trên xóm ngõ hoặc sân thượng...
Muỗi vằn cư trú ở những nơi nước trong để lâu ngày
Thay nước, rửa dọn đồ vật trong nhà, không để nước lưu cữu sẽ là môi trường cho bọ gậy phát triển, sinh nở thành muỗi vằn. 
Phun hóa chất diệt muỗi, phải phun ở tất cả các tầng, tránh tình trạng muỗi di chuyển từ tầng dưới lên tầng trên, từ nhà này sang nhà khác.
Muỗi vằn truyền bệnh sốt xuất huyết
6. Phun thuốc muỗi một lần sẽ diệt được muỗi vĩnh viễn trong nhiều tháng
Nhiều người nghĩ rằng gia đình đã từng phun thuốc diệt muỗi là vĩnh viễn muỗi sẽ không xuất hiện trở lại trong thời gian hàng tháng. Điều đó là quan niệm sai lầm. 
Bởi thuốc phun diệt muỗi là phun không gian ở thể tích cực nhỏ với lượng hóa chất cực nhỏ dưới dạng phun sương và diệt được đàn muỗi gây bệnh ở thời điểm đó.
Chỉ vài giờ đồng hồ sau phun, lượng hóa chất sẽ khuếch tán trong không gian và bay đi hết, những đàn muỗi khác vẫn tiếp tục bay vào nhà, tấn công và truyền bệnh cho người.
Vì vậy, nếu phun thuốc muỗi dập dịch, cần phải phun tổng thể, đồng loạt ở cả cụm dân cư mới có tác dụng triệt để, Cách tốt nhất để phòng chống sốt xuất huyết là diệt loăng quăng, bọ gậy, thường xuyên vệ sinh chỗ ở xung quanh.
Phun thuốc muỗi dập dịch

Sunday, July 23, 2017

Cách đơn giản để phòng chống cao huyết áp tại nhà

Cao huyết áp còn được gọi tăng huyết áp, là một tình trạng sức khỏe phổ biến, nhiều người lầm tưởng rằng chỉ những người có tính cách nóng nảy, căng thẳng, lo lắng hay bồn chồn là thì mới bị cao huyết áp. Sự thật là, cao huyết áp không không phụ thuộc vào đặc điểm tính cách, dù là bạn có thể là một người bình tĩnh và luôn cảm thấy thoải mái, thì vẫn có thể bị cao huyết áp. Vậy cụ thể tình trạng cao huyết áp là gì? Hãy cùng tìm hiểu những thông tin hữu ích dưới đây nhé!
1. Nguyên nhân hay gặp dẫn đến cao huyết áp
10 nguyên nhân hàng đầu khiến bạn bị tăng huyết áp, bạn cần biết để phòng tránh:
  • Tuổi tác

Khi bạn càng nhiều tuổi, bạn càng có nhiều nguy cơ bị huyết áp cao. Những người cao tuổi có nguy cơ cao tăng chỉ số huyết áp tâm thu. Nguy cơ này là do xơ cứng động mạch.
  • Di truyền

Nếu bạn có tiền sử gia đình bị cholesterol tăng thì bạn cần cảnh giác. Dạng cao huyết áp do di truyền có thể dẫn đến các vấn đề sức khỏe đối với người trẻ tuổi.
  • Giới tính

Nam giới được cho là có nguy cơ lớn hơn bị huyết áp cao so với nữ giới. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa phụ nữ không cần lo lắng. Vì vậy hãy duy trì thói quen sống và ăn uống lành mạnh.

Thừa cân hoặc béo phì có thể là một trong những nguyên nhân hàng đầu của huyết áp cao nhưng có sự khác nhau ở mỗi người. Những người tíchtrữ nhiều mỡ ở bụng, mông và đùi có nguy cơ cao hơn bị huyết áp cao. Vì vậy hãy duy trì cân nặng.
  • Ăn mặn

Một số người bị nhạy cảm với muối hoặc natri, điều này khiến cho họ bị tăng huyết áp. Nếu bạn nằm trong số này thì lựa chọn an toàn duy nhất là giảm lượng muối tiêu thụ. Bạn phải rất thận trọng khi sử dụng muối để chế biến thức ăn và đọc kỹ nhãn mác của bất cứ loại thực phẩm chế biến sẵn nào. Thức ăn nhanh có hàm lượng muối cao vì vậy bạn nên hạn chế những loại thức ăn này.
  • Uống rượu

Nếu bạn bị say chỉ với 2 cốc rượu thì đó là dấu hiệu cho thấy bạn nên ngừng uống. Uống nhiều rượu có hại cho sức khỏe cũng như huyết áp của bạn. Do đó, hãy tránh uống nhiều rượu để duy trì huyết áp ổn định.

  • Cuộc sống căng thẳng

Cuộc sống của bạn bị căng thẳng thường xuyên do công việc hoặc các nguyên nhân khác, đây là lý do có thể khiến huyết áp của bạn bị tăng lên. Hãy giải tỏa mọi căng thẳng, giữ sự bình tĩnh và thư giãn chính bạn.
  • Tránh thai

Trong một nghiên cứu gần đây, người ta thấy rằng sử dụng thường xuyên thuốc tránh thai làm tăng nguy cơ bị huyết áp cao.
  • Lối sống lười vận động

Lối sống lười vận động không chỉ khiến vòng bụng của bạn to ra mà còn khiến bạn có nguy cơ cao bị tăng huyết áp. Vì vậy hãy tăng cường vậnđộng dưới bất cứ hình thức nào mà bạn thích, có thể là tập một môn thể thao hoặc đi bộ tới chỗ làm. Lý do mà hoạt động thể chất có thể làm giảm nguy cơ tăng huyết áp của bạn là vì vận động sẽ giúp bạn lưu thông mạch máu, duy trì áp suất trong tĩnh mạch và động mạch trong giới hạn bình thường.
  • Một số loại thuốc

Một số loại thuốc được sử dụng để điều trị các triệu chứng cảm lạnh hoặc dị ứng có thể làm tăng huyết áp của bạn. Do đó, hãy hỏi ý kiến bác sĩ trước khi dùng bất cứ loại thuốc nào và cho bác sĩ biết về tiền sử bệnh của bạn để tránh các biến chứng.
2. Phòng cao huyết áp
  • Ngủ sớm một tiếng 'hạ huyết áp chỉ sau 6 tuần'

Những người có huyết áp chớm tăng cao có thể phục hồi về mức bình thường, chỉ bằng cách ngủ sớm hơn một tiếng mỗi ngày, các nhà nghiên cứu vừa tìm thấy.
Nghiên cứu, thực hiện tại Trường Y Harvard, Mỹ, đã tìm hiểu 22 người đàn ông và phụ nữ thường xuyên chỉ ngủ 7 tiếng hoặc ít hơn mỗi đêm, và bắt đầu chớm sang ngưỡng huyết áp cao, có nguy cơ "vào vùng nguy hiểm". Trong vòng 6 tuần, 13 người trong nhóm một được yêu cầu lên giường sớm hơn một tiếng so với mọi khi. Nhóm còn lại giữ lịch đi ngủ như bình thường. Tất cả họ được gắn monitor để theo dõi huyết áp, nước tiểu.
Kết quả cho thấy, nhóm lên giường sớm hơn ngủ được thêm ít nhất 35 phút mỗi tối. Kéo theo đó, huyết áp trung bình của họ hạ xuống đáng kể từ 8 đến 14mmHg.
Nói về phát hiện này, nhóm nghiên cứu cho rằng việc ngủ thêm cần sớm được đưa vào như một cách trị liệu để làm giảm huyết áp.
Thiếu ngủ và lối sống áp lực từ lâu được xem là nguy cơ gia tăng tình trạng cao huyết áp. Tuy nhiên, nghiên cứu này là công trình đầu tiên chứng minh rằng có thể đưa huyết áp về mức kiểm soát, chỉ đơn giản bắng cách đi ngủ sớm.

Căng thẳng dù ít hay nhiều, tạm thời hay mãn tính đều có thể khiến huyết áp tăng vọt. Tiến sĩ Vincent Bufalio cho biết: “Bất kỳ gián đoạn nào trong cuộc sống cũng dẫn đến tăng huyết áp”. Tốt hơn hết, hãy chèn vào thời gian biểu hàng ngày của bạn những giờ tập luyện hít thở sâu, ngồi thiền, tập thể dục và luôn giữ tâm trạng thư thái, vui vẻ.
  • Chế độ ăn uống hợp lý

Cần tránh ăn đường như trà đường, nước đường khi lên cơn cao huyết áp, vì lúc này đường có thể khiến huyết cao hơn. Đường cũng sẽ có hại nếu bệnh nhân có kèm bệnh lý khác như tiểu đường. Đường chỉ có lợi cho người bị hạ đường huyết. Người thừa cân hoặc bị béo phì có nguy cơ mắc chứng tăng huyết áp cao hơn bình thường. Nếu bạn thuộc nhóm hoảng sợ khi lên bàn cân, hãy thử áp dụng chế độ ăn kiêng, chế độ đặc biệt theo nguyên lý ít tinh bột được chứng minh có kết quả trong việc kiểm soát nồng độ máu. Thêm vào đó, hãy kiên trì tập thể dục hai tiếng rưỡi mỗi tuần để tăng cường sức khỏe.
Bệnh nhân cũng tuyệt đối không ăn mặn, không hút thuốc lá hoặc rượu bia trong lúc lên cơn cao huyết áp vì dễ làm huyết áp tăng cao hơn. Caffeine khiến huyết áp tăng cao đột ngột. Bạn không cần phải hoàn toàn từ bỏ thói quen nhâm nhi cà phê sáng ngay lập tức, nhưng phải cố gắng hạn chế lượng caffeine cung cấp cho cơ thể từ cà phê, trà, soda, nước uống thể thao và chocolate.
  • Bổ sung các loại vitamin

Nguy cơ mắc bệnh tim mạch lên đến 87% ở người bị cao huyết áp do cholesterol cao, ít bổ sung vitamin A và vitamin E. Vì thế bác sĩ khuyên mọi người nên bổ sung vitamin trong bữa ăn hàng ngày để phòng và trị chứng cao huyết áp.
Cụ thể một số thực phẩm quen thuộc như:
Vitamin E: 
Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng nam giới dùng hơn 30 đơn vị vitamin E giảm 37% nguy cơ bệnh tim mạch. Những người muốn giảm cao huyết áp bằng vitamin E nên sử dụng 800 đơn vị vitamin E tự nhiên mỗi ngày.
Một số thực phẩm chứa vitamin E có nguồn gốc thiên nhiên như: đậu tương, giá đỗ, vừng, lạc, mầm lúa mạch, hạt hướng dương, dầu ô-liu...
Y văn thế giới ghi rõ, vitamin E là chất chống ôxy hóa. Nó có tác dụng ngăn ngừa các tế bào mỡ trong cơ thể giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch và cao huyết áp, bảo vệ các động mạch khỏi ảnh hưởng của cholesterol LDL bị ôxy hóa. 
Vitamin C: 
Trong thiên nhiên, vitamin C có trong hầu hết các loại rau quả tươi. Thông thường, các loại rau quả trồng ở nơi đủ ánh sáng có hàm lượng chất này cao hơn.
Vitamin C có tác dụng bảo vệ các mạch máu, giảm nguy cơ bệnh tim mạch, cao huyết áp. Hơn nữa sự có mặt của vitamin này giúp ngăn ngừa ảnh hưởng của các gốc tự do có hại cho thành mạch máu, làm lành vùng thành mạch bị tổn thương, ngăn hình thành mảng bám tại những nơi có vết thương và tăng lượng cholesterol tốt HDL. 
Các nhà nghiên cứu khuyên những người bị cao huyết áp dùng lượng vitamin C tối thiểu là 2.500 mg mỗi ngày.
Vitamin A: 
Vitamin A được tìm thấy ở nhiều nguồn thực phẩm như: cá thu, cá trích, những loại quả màu vàng và rau xanh sẫm có chứa một lượng tiền vitamin A lớn.
Vitamin A giúp hòa tan chất béo và ngừa cholesterol xấu LDL do có tác động tích cực đến các tế bào mỡ.
Lưu ý: Dùng vitamin A với liều lượng cao rất nguy hiểm. Vì thế bệnh nhân cao huyết áp muốn chỉ nên dùng 5.000 đơn vị vitamin A mỗi ngày.

Những người khỏe mạnh có huyết áp khoảng 120/80 mmhg. Tuy nhiên, theo báo cáo mới đây đăng trên tạp chí của Hiệp hội Y khoa Mỹ vào năm 2013, chỉ số 140/90 mmhg hoặc thấp hơn mới là an toàn cho bệnh nhân cao huyết áp. Nếu bạn bị huyết áp cao, có thể bác sĩ sẽ yêu cầu đo huyết áp hàng ngày, đo đúng cách, trong khi những người khỏe mạnh chỉ cần đo vài lần một năm là đủ.
Tư thế:
Bệnh nhân phải chọn tư thế ngồi thoải mái. Trước đó nên thư giãn 5 phút. Đo huyết áp nếu muốn thực sự chính xác không thể mất dưới 10 phút. Không đo huyết áp ngay sau khi chạy nhanh, leo cầu thang (trừ khi thầy thuốc cần đo lúc gắng sức), vừa mới ăn no, quá đói, quá mệt…, vì huyết áp khi đó cao hay thấp hơn con số trung thực.
Vị trí đo huyết áp:
Với máy đo điện tử, có thể đo huyết áp ở bắp tay hay cổ tay miễn là điểm cảm ứng trong băng quấn tay (sensor) phải nằm ngang mực tim. Nếu đo ở bắp tay có thể đặt cánh tay nằm ngửa trên mặt bàn với điểm cảm ứng nằm trên nếp khuỷu tay khoảng 2cm. Nếu đo ở cổ tay thường phải gập cánh tay một góc khoảng 45 độ để cổ tay ngang với trái tim. Do đó, đo huyết áp ở cổ tay dễ sai lệch hơn đo ở bắp tay vì người đo khó giữ cánh tay cho yên.
Phương tiện:
- Máy đo: nói chung, máy đo hiện nay hầu như đều có độ chính xác cao. Muốn chắc chắn nên so sánh kết quả của máy tự động với máy kinh điển đo bằng thính lực. Nếu dùng máy điện tử tự động nên chọn máy:
+ Vận hành đơn giản chỉ với một nút (one touch) để người đo đỡ phân tâm.
+ Bơm nhanh và không gây tiếng động lớn khi bơm hơi để người đo bớt lo lắng trong khi chờ đợi.
+ Có tính cảm ứng cao thể hiện qua dấu hiệu máy ngưng vận hành ngay khi cánh tay cử động thay vì tiếp tục bơm rồi cuối cùng báo lỗi.
- Bao quấn tay: Phải dài tối thiểu 33 cm nếu đo ở bắp tay và 19,5 cm nếu đo ở cổ tay. Nếu bao quá dài hay quá ngắn do người quá ốm hay quá mập phải thay bao khác với chiều dài thích hợp. Bao khi quấn phải chặt nhưng không gây cảm giác khó chịu cho người đo.
Thao tác:
- Không ăn, không uống, không nói trong lúc đo huyết áp vì sai lệch kết quả.
-  Khi đo lần đầu cần đo cả hai tay để sau đó chọn cánh tay với huyết áp có khuynh hướng cao hơn.
- Nên đo huyết áp ngày hai lần, buổi sáng trước khi uống thuốc và buổi chiều sau bữa ăn khoảng 1 giờ. Ghi tất cả kết quả với ngày và giờ đo vào sổ để thầy thuốc tiện việc đánh giá trong lần tái khám.
Kết quả:
- Phải ghi cả hai trị số thu tâm (số lớn) và trương tâm (số nhỏ) vì thầy thuốc chỉ có thể định bệnh cũng như đánh giá diễn tiến khi có đủ hai trị số.
- Trị số huyết áp không cố định, thay đổi theo nhịp sinh học, trọng lượng, nếp sinh hoạt…, thường có khuynh hướng cao hơn vào buổi sáng sớm, đúng ngọ và buổi tối. Do đó, không nên mất bình tĩnh nếu thấy huyết áp trong ngày dao động ít nhiều.
+ Huyết áp được định nghĩa là cao nếu huyết áp thu tâm >140 và huyết áp trương tâm >90. Tuy vậy, không nên coi thường huyết áp với trị số 135/85 nếu kéo dài nhiều ngày. Mặt khác, trị số huyết áp đơn phương không phản ánh mức độ nghiêm trọng mà là khoảng sai biệt giữa hai trị số. Khoảng này càng hẹp càng nguy hiểm. Thí dụ: huyết áp 150/90 (sai biệt là 60) tuy thuộc về huyết áp cao  nhưng ít nguy hiểm bằng huyết áp 140/100 (sai biệt là 40).
+ Nếu ghi nhận huyết áp cao nên nằm nghỉ 15-30 phút rồi đo lại. Nếu huyết áp vẫn cao nên tham vấn ý kiến thầy thuốc cho sớm thay vì tự điều trị hay chần chờ.
+ Ðừng quên là kết quả rất dễ sai lệch nếu máy đo sắp hết pin. Nếu cẩn thận nên thay pin mới và đo lại huyết áp.
Đo huyết áp là tối cần thiết. Nhưng nếu đo không đúng cách rồi dựa vào kết quả sai lệch để quyết định uống thuốc hay không uống thuốc thì nhiều khi tai hại không kém việc quên đo huyết áp. Rất thường khi giải pháp của một vấn đề phức tạp lại tương đối đơn giản. Muốn tránh hậu quả của bệnh cao huyết áp phải biết huyết áp có cao hay không.
3. Xử trí đúng cách tại chỗ lúc có cơn cao huyết áp
Khi tăng huyết áp, điều cần thiết nhất là nên để bệnh nhân nằm nghỉ trong khoảng 15 phút, sau đó dùng huyết áp kế đo lại huyết áp. Người bệnh có thể dùng ngay thuốc mà bác sĩ đã kê đơn trước đó.
Bệnh nhân nên thả lỏng cơ thể, giữ tâm lý ổn định, không nên nói nhiều, không nên quá xúc động, quá vui hoặc nóng giận. Đang trong lúc cãi nhau thì phải ngưng ngay việc cãi vã.

Người nhà cũng không nên vì quá lo lắng mà xúm lại hỏi han bệnh nhân quá nhiều. Người bệnh cũng không nên hoạt động gắng sức. Trong trường hợp huyết áp không hạ sau nghỉ ngơi thì cần đưa bệnh nhân đến bệnh viện để được xử trí kịp thời.

Saturday, July 22, 2017

Cách phòng chống bệnh sốt xuất huyết

4 tháng đầu năm 2017, cục trưởng Cục Y tế dự phòng Bộ Y tế Trần Đắc Phu cho hay toàn quốc đã có khoảng 23.000 người mắc sốt xuất huyết, 8 người trong đó đã tử vong. Bài viết sau đây sẽ chia sẻ cách phòng chống căn bệnh nguy hiểm này nhé.
1. Bệnh sốt xuất huyết
Sốt xuất huyết là bệnh truyền nhiễm cấp tính, có thể gây thành dịch do vi rút dengue gây ra. Bệnh lây lan do muỗi vằn đốt người bệnh nhiễm vi rút sau đó truyền bệnh cho người lành qua vết đốt. Hai loại muỗi vằn truyền bệnh có tên khoa học là Aedes aegypti và Aedes albopictus, trong đó chủ yếu là do Aedes aegypti.
Bệnh xảy ra ở tất cả các nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới. Ở Việt Nam, bệnh lưu hành rất phổ biến, ở cả 4 miền Bắc, Trung, Nam và Tây Nguyên, kể cả ở thành thị và vùng nông thôn, bệnh xảy ra quanh năm nhưng thường bùng phát thành dịch lớn vào mùa mưa, nhất là vào các tháng 7, 8, 9, 10.
2. Sự nguy hiểm của bệnh sốt xuất huyết
Bệnh chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và chưa có vắc xin phòng bệnh.
Thường gây ra dịch lớn với nhiều người mắc cùng lúc làm cho công tác điều trị hết sức khó khăn, có thể gây tử vong nhất là với trẻ em, gây thiệt hại lớn về kinh tế, xã hội.
Bệnh sốt xuất huyết do vi rút Dengue gây ra với 4 tuýp gây bệnh được ký hiệu là D1, D2, D3, D4. Cả 4 tuýp gây bệnh này đều gặp ở Việt Nam và luân phiên gây dịch. Do miễn dịch  được tạo thành sau khi mắc bệnh chỉ có tính đặc hiệu đối với từng tuýp cho nên người ta có thể mắc bệnh sốt xuất huyết lần thứ 2 hoặc thứ 3 bởi những tuýp khác nhau. 
3. Đặc điểm của muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết
Muỗi có màu đen, thân và chân có những đốm trắng thường được gọi là muỗi vằn.
Muỗi vằn cái đốt người vào ban ngày, đốt mạnh nhất là vào sáng sớm và chiều tối.
Muỗi vằn thường trú đậu ở các góc/xó tối trong nhà, trên quần áo, chăn màn, dây phơi và các đồ dùng trong nhà.
Muỗi vằn đẻ trứng, sinh sản ở các ao, vũng nước hoặc các dụng cụ chứa nước sạch ở trong và xung quanh nhà như bể nước, chum, vại, lu, khạp, giếng nước, hốc cây... các đồ vật hoặc đồ phế thải có chứa nước như lọ hoa, bát nước kê chạn, lốp xe, vỏ dừa... Muỗi vằn phát triển mạnh vào mùa mưa, khi nhiệt độ trung bình hàng tháng vượt trên 20º C.
3. Biểu hiện của bệnh
Thể bệnh nhẹ: 
Sốt cao đột ngột 39 - 40 độ C, kéo dài 2 - 7 ngày, khó hạ sốt.
Đau đầu dữ dội ở vùng trán, sau nhãn cầu.
Có thể có nổi mẩn, phát ban.
Ban xuất huyết
Thể bệnh nặng:
Bao gồm các dấu hiệu trên kèm theo một hoặc nhiều dấu hiệu sau:
Dấu hiệu xuất huyết: Chấm xuất huyết ngoài da, chảy máu cam, chảy máu chân răng, vết bầm tím chỗ tiêm, nôn/ói ra máu, đi cầu phân đen (do bị xuất huyết nội tạng).
Đau bụng, buồn nôn, chân tay lạnh, người vật vã, hốt hoảng (hội chứng choáng do xuất huyết nội tạng gây mất máu, tụt huyết áp), nếu không được cấp cứu và điều trị kịp thời có thể dẫn đến tử vong.
4. Những việc cần làm khi nghi ngờ bị sốt xuất huyết
Đưa ngay người bệnh đến cơ sở y tế để được khám, điều trị kịp thời.
5. Cách phòng bệnh sốt xuất huyết
Cách phòng bệnh tốt nhất là diệt muỗi, lăng quăng/bọ gậy và phòng chống muỗi đốt.
- Loại bỏ nơi sinh sản của muỗi, diệt lăng quăng/bọ gậy bằng cách:
Đậy kín tất cả các dụng cụ chứa nước để muỗi không vào đẻ trứng.
Thả cá hoặc mê zô vào các dụng cụ chứa nước lớn (bể, giếng, chum, vại...) để diệt lăng quăng/bọ gậy.
Thau rửa các dụng cụ chức nước vừa và nhỏ (lu, khạp…) hàng tuần.
Thu gom, hủy các vật dụng phế thải trong nhà và xung quanh nhà như chai, lọ, mảnh chai, mảnh lu vỡ, ống bơ, vỏ dừa, lốp/vỏ xe cũ, hốc tre, bẹ lá..., dọn vệ sinh môi trường, lật úp các dụng cụ chứa nước khi không dùng đến.
Bỏ muối hoặc dầu vào bát nước kê chân chạn/tủ đựng chén bát, thay nước bình hoa/bình bông.
- Phòng chống muỗi đốt:
Mặc quần áo dài tay.
Ngủ trong màn/mùng kể cả ban ngày.
Dùng bình xịt diệt muỗi, hương muỗi, kem xua muỗi, vợt điện diệt muỗi...
Dùng rèm che, màn tẩm hóa chất diệt muỗi.
Cho người bị sốt xuất huyết nằm trong màn, tránh muỗi đốt để tránh lây lan bệnh cho người khác.
- Tích cực phối hợp với chính quyền và ngành y tế trong các đợt phun hóa chất phòng, chống dịch.


Những món ăn yêu thích của trẻ em Việt Nam vô cùng độc hại

Có một số món ăn nếu trẻ em ăn nhiều gây nguy hại và đe doạ sức khoẻ hơn cả việc sử dụng thuốc lá. Ở nước ngoài, những thực phẩm này được m...

Bài xem nhiều nhất tuần